Trong suốt một thời gian dài, giới sử học Việt Nam và nước ngoài đều tin rằng từ thế kỷ 10 đến 11, quốc hiệu nước ta là Đại Cồ Việt. Sách giáo khoa Lịch Sử lớp 10 vẫn ghi là Đinh Bộ Lĩnh “đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt, dời đô về Hoa Lư..”. Tuy nhiên, theo những phát hiện khảo cổ mới, thông tin này là sai.
1. Căn cứ vào khảo cổ:
Gần đây, khi giới khảo cổ khai quật lại thủ đô Hoa Lư, họ đã tìm thấy những viên gạch được khắc chữ “Đại Việt Quốc Quân Thành Chuyên” 大越國軍城磗. Loại gạch này chiếm tuyệt đại đa số trong số gạch đã được phát hiện tại Hoa Lư, được xác định rõ là gạch từ thời Đinh. Tất cả các viên gạch thời nhà Đinh được đào được chỉ có khắc chữ Đại Việt, không có chữ Đại Cồ Việt nào cả.
Tài liệu khảo cổ vốn có tính chất khách quan và không thể chối cãi, nên hoàn toàn có cơ sở để nói rằng quốc hiệu Đại Cồ Việt không tôn tại. Đỗ Văn Ninh trong quyển sách “Hoàng thành Thăng Long, phát hiện khảo cổ học” đã dựa vào cơ sở này để viết rằng “Đã có quốc gia Đại Việt và không có có quốc gia Đại Cồ Việt”. Ông cũng cho rằng:
“Trong ngổn ngang phế tích khảo cổ học, những viên gạch có chữ “Đại Việt quốc quân thành chuyên” đã là những di vật thuyết phục lớn để chỉnh lý những khiếm khuyết trong sử sách.”
2. Căn cứ vào sử liệu:
Sử Việt:
Quốc hiệu Đại Cồ Việt chỉ xuất hiện từ thế kỷ 15, cách nhà Đinh 500 năm. Sớm nhất là từ cuốn Ức Trai tập của Nguyễn Trãi, ghi rằng:”Đinh gọi Đại Cồ Việt đô Hoa Lư, Lý gọi Đại Việt đô Thăng Long”. Sau đó là Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Ngô Thì Sĩ trong Việt Sử Tiêu Án và cuối cùng là Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục thời Nguyễn. Tất cả các tài liệu này đều cách quá xa thời nhà Đinh.
Còn các nguồn sử liệu của Việt Nam trước thế kỷ 15 không hề nhắc gì đến Đại Cồ Việt. Các văn bia thời Đinh, Tiền Lê, đầu thời Lý cũng không nhắc gì đến quốc hiệu này. Bộ lịch sử sớm nhất của người Việt viết từ thời Trần, cuốn Việt Sử lược, cũng không nhắc gì đến Đại Việt. Cuốn An Nam Chí Lược thì viết ở Trung Quốc nên gọi nước ta là Giao Chỉ/An Nam.
Còn cuốn Đại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu thời nhà Trần tuy đã mất, nhưng Ngô Sĩ Liên vẫn chép được đầy đủ chú thích của Lê Văn Hưu vào sách, và Lê Văn Hưu cũng không đề cập gì đến Đại Cồ Việt. Nhắc đến nhà Đinh, ông chỉ nói:
“Vua (Đinh Bộ Lĩnh) mở nước dựng đô, đổi xưng hoàng đế, đặt trăm quan, lập sáu quân, chế độ gần đầy đủ, có lẽ ý trời vì nước Việt ta lại sinh bậc thánh triết để nối tiếp quốc thống của Triệu Vương chăng?”.
Lê Văn Hưu chỉ nói “nước Việt ta”, có khả năng là bị Ngô Sĩ Liên cắt mất chữ Đại để tránh mâu thuẫn với Đại Cồ Việt.
Sử Trung:
Người Trung Quốc viết về nước ta thời đó cũng không nhắc gì đến Đại Cồ Việt. Tác giả Trung Quốc thế kỷ 12, Chu Khứ Phi, viết trong cuốn Lĩnh Nam ngoại đáp chỉ ghi quốc hiệu Đại Việt, không nhắc gì đến Đại Cồ Viêt.
Thời gian xuất hiện quốc hiệu Đại Việt thì cả Việt Nam và Trung Quốc đều liên hệ với vua Lý Thánh Tông. Tiền Hi Tộ nhà Thanh tuy nhầm lẫn về tên vua nhưng ông không viết là “lập quốc hiệu Đại Việt”(Tức là mới đặt), mà viết “quốc hiệu là Đại Việt”(chỉ đề cập tên bấy giờ, không đề cập đến cũ hay mới).
Chu Khứ Phi viết:
“… Thánh Tông lên ngôi, tự xưng hoàng đế thứ ba dòng họ Lý của nước Đại Việt”. Tức là có thể có hoàng đế thứ nhất và hoàng đế thứ hai của nước Đại Việt.
Tại sao sử liệu trước thời Lê không có Đại Cồ Việt? Tại sao chỉ đến thời Lý Thánh Tông, người Trung mới biết đến Đại Việt? Có thể đưa ra giả thuyết như sau:
Quốc hiệu Đại Việt đã xuất hiện từ thời Đinh Bộ Lĩnh, do Đinh Bộ Lĩnh đặt vì ông là người lập nên quốc gia. Và theo Đỗ Văn Ninh”… Lý Công Uẩn đã làm quan dưới triều đình Đại Cồ Việt, khi lên ngôi vẫn giữ nguyên quốc hiệu cũ cũng là điều hợp lý”
Còn trong các thư tịch Trung Quốc, việc tên Đại Việt chỉ xuất hiện ở thời Lý Thánh Tông cũng có thể lý giải được. Đó là trước kia, các triều đình nước ta đều muốn che giấu quốc hiệu Đại Việt vì không muốn làm xấu đi quan hệ với nhà Tống (tên này nghe quá oách so với Trung Quốc). Thế nên mới có chuyện khắc chữ Đại Việt vào các viên gạch ở trong thành, để sứ giả nước họ sang không thấy.
Chỉ đến thời Lý Thánh Tông, quan hệ giữa 2 bên xấu, Lý Thánh Tông lại đem quân đánh sang biên giới Tống, đánh vào Khâm Châu,(không liên quan gì đến Lý Thường Kiệt), ông mới bắt đầu tuyên bố quốc hiệu này với Trung Quốc.
Vấn đề cuối, tại sao 500 năm sau thời Đinh lại xuất hiện tên Đại Cồ Việt?
Giả thuyết 1:
Theo tiến sĩ Nga Pozner, Cồ瞿 trong Đại Cồ Việt là chữ thứ nhất trong tên của Đức Phật “Cồ Đàm” 瞿曇(Gautama). Nó có ý nghĩa tôn giáo, và là tên giản lược của Đức Phật Cồ Đàm, có thể dịch là “Việt của Đại Cồ” (“Việt của Đại Gautama”, theo Pozner).
Có khả năng các nhà sử học thế kỷ 15 muốn nhấn mạnh tính chất độc lập của Việt Nam Phật Giáo với Trung Quốc Nho Giáo.
Giả thuyết 2:
Theo Đỗ Văn Ninh, các nhà nghiên cứu chữ Nôm cho rằng Cồ là chữ Nôm có nghĩa là to lớn, như vậy quốc hiệu này mang 2 chữ lớn, quốc hiệu chính chỉ là Đại Việt, khi gọi nôm mới nói là Cồ Việt. Rồi khi chép vào văn tự, người ta chép nhầm, chép cả Đại và Cồ vào chung một tên.
Kết luận:
Mặc dù có sự mâu thuẫn, nhưng nếu so bằng chứng khảo cổ và sử liệu thì bằng chứng khảo cổ có độ tin cậy cao hơn, nhất là khi đây lại là gạch từ chính thời nhà Đinh, chắc chắn là đáng tin cậy hơn các sử liệu cách đấy 500 năm. Thế nên chúng ta ở hiện tại hoàn toàn có thể khẳng định quốc hiệu nước ta thời nhà Đinh là Đại Việt, không phải Đại Cồ Việt.
Theo Polyakov Alex Borisovich, Đại học Tổng hợp Quốc gia moskva.
Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, tập 32
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment